Dàn ý phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

Dàn ý phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ – Tham khảo dàn ý chi tiết dưới đây các em sẽ nắm rõ nội dung và phân tích bài thơ hay, chính xac hơn.

Dàn ý phân tích mẫu

Dàn ý phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

Mở bài

– Giới thiệu về tác Đặng Trần Côn và dịch giả Đoàn Thị Điểm: Đặng Trần Côn là người làng Nhãn Mục, huyện Thanh Trì, ngoại thành Thăng Long nay là Hà Nội. Ông từng làm quan dưới thới Lê – Trịnh và để lại cho đời một số thơ văn chữ hán. Một trong những tác phẩm nổi tiếng là tác phẩm Chinh Phụ Ngâm Khúc. Thơ ông viết bằng chữ hán nên không phải ai cũng hiểu. Vì vậy dịch giả Đoàn Thị Điểm đã dịch bài thơ ra chữ nôm, dễ hiểu và sát với ý thơ của Đặng Trần Côn. Đoàn Thị Điểm vốn là một trong những gương mặt nhà thơ tài năng bậc nhất nền văn học Việt Nam trung đại. Ngoài việc sáng tác thơ ca bà cũng là một dịch giả nổi tiếng. Bài thơ Chính Phụ Ngâm đã được bà dịch sang tiếng nôm sát nghĩa và rất hay.

– Giới thiệu đoạn trích: Trong đó, phải kể đến đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của ngời chinh phụ nói về tâm trạng của người chinh phụ sống cô đơn buồn tủi, mỏi mòn chờ chồng đi đánh trận, không tin tức.

Thân bài

  • Luận điểm 1: 16 câu đầu cô đơn, lẻ loi của người chinh phụ

Giải nghĩa chinh phụ là gì?

+ Chinh phụ là người phụ nữ mới lấy chồng nhưng lại có chồng đi trận. Khúc Chinh phụ ngâm là khúc ngâm về nỗi sầu thương nhớ của người vợ có chồng ra trận không hẹn ngày về, không tin tức. Có thể nói, người vợ ở lại luôn trong tâm trạng sầu não, u uất, cô đơn thống khổ, thời gian đằng đẵng chờ chồng đi đánh trận không rõ ngày trở về.

Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước

Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.

+ Dạo hiên vắng là một hành động lặng lẽ, cô đơn, từng bước nhẹ nhàng. Dáng đi cũng vô cùng buồn bã cô đơn. Không gian yên tĩnh cô đơn như chính tâm trạng người chinh phụ.

+ Vào trong phòng thì cuốn rèm, buông rèm hành động cứ lập lại, ngày nào cũng vậy.

>> Cho thấy sự cô đơn và cuộc đời bất định của người chinh phụ. Nhiều hành động lặp lại vô thức, cho thấy nỗi cô đơn đã choáng ngợp hết tâm hồn. Ngoài ra, tác giả sửa dụng các từ “vắng” “thưa” của không gian chính là ngầm nói đến tâm trạng trống không của người chinh phụ.

Ngoài rèm thước chẳng mách tin,

Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?

+ Ban ngày, người chinh phụ luôn mong chờ chim thước mách tin – đây là một loài chim khách báo tin lành, báo tin chồng trở về hoặc là vẫn còn sống ngoài chiến trận. Người chinh phụ ngày nào cũng ra ngóng vào trông chờ tin chồng nhưng dường như vẫn bật vô âm tín bởi vì nàng chẳng nhận được tin tức gì.

+ Trong phòng,  vào ban đêm nàng chỉ làm bạn với ngọn đèn mà thôi. Nàng hi vọng ngọn đèn kia có tin về chồng, cùng san xẻ nỗi lòng với nàng. Qua đây cho thấy người chinh phụ quá cô đơn chỉ biết làm bạn với ngọn đèn, chiếc rèm mà thôi.

Đèn có biết dường bằng chẳng biết

Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi

+ Thực tế thì đèn cũng chẳng hề biết tin tức gì ngoài kia xa. Nói cho cùng nó cũng chỉ là vật vô tri vô giác, có chăng nàng quá cô đơn mà tự hỏi như vậy để làm lòng nhẹ vơi đi mà thôi.

+ Câu thơ Lòng thiếp riêng bi tiết mà thôi là câu thơ có hình thức rất đặc biệt, khẳng đỉnh rồi phụ định. Ngọn đèn vô tri không biết mà thực ra chỉ có lòng nàng biết, lòng nàng đau. Ngọn đèn kia sao có thể san sẻ nỗi lòng với nàng được.

>> Hình ảnh “đèn chẳng biết” khiến ta liên tưởng đến bài Khăn thương nhớ ai, đèn thương nhớ ai. Bài ca dao cũng xuất hiện hình ảnh nognj đèn. Nhưng trong ca dao, ngọn đèn là tri kỉ tri âm thì ở đây người chinh phụ chỉ thấy ngọn đèn lay lắt và càng cứa sâu nỗi đau nhớ chồng mà thôi.

Buồn rầu nói chẳng nên lời

Hoa đèn kia với bóng người khá thương.

+ Nỗi buồn không thể nói lên lời, bởi vì nỗi buồn quá sâu đậm, nàng không còn thiết tha than vãn nữa, đành chỉ ôm trong lòng mà thôi. Bởi có nói ra cũng không ai hiểu, bởi chỉ có lòng nàng hiểu và đau.

+ Sự liên tưởng giữa hoa đèn và bóng người chính tột cùng của nỗi cô đơn. Nếu hoa đèn cháy hết mình rồi cũng lụi tàn có khác gì người chinh phụ đau đáu hết lòng chờ chồng nhưng cuối cùng lại nhận thấy sự cô đơn trống trải. Trong Truyện Kiều, Thúy Kiều cũng từng chờ đợi Thúc sinh trở về như chiếc bóng năm canh. Càng đợi càng tuyệt vọng: “Người về chiếc bóng năm canh/ Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi”

Gà eo óc gáy sương năm trống

Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.

+ Tác giả sử dụng các từ gợi hình ảnh như “eo óc”  “phất phơ” cho thấy tình cảnh vô cùng thê lương, tang tóc, trống trải. Gà và hoa hè vốn là hai hình ảnh quen thuộc của làng quê nhưng trong hoàn cảnh này, người đọc lai liên tưởng đến cảnh hoang vu ghê rợn nào đấy.

>> Dưới con mắt người chinh phụ, sự cô đơn trống trải đã khiến họ chỉ nhìn thấy cảnh vật cũng cô đơn, hoang tàn, không sức sống. Đây chính là nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đạt đến trình độ bậc thầy.

Khắc giờ đằng đẵng như niên

Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.

+ Sử dụng từ láy đằng đẵng, dằng dặc cho thấy sự cảm nhận khác thường về thời gian, mỗi giờ phút trôi qua mà nặng nè như cả năm dài, thời gian càng dài nỗi sầu càng nặng nề.

>> Hai câu thơ tả nỗi cô đơn tột cùng của người Chinh Phụ. Đối với người chinh phụ từng khắc trôi qua đều là vô vọng, đều rất dài và nặng nề.

Hương gượng đốt hồn đà mê mải

Gương gượng soi lệ lại châu chan

+ Đốt hương để tìm kiếm sự thanh thản nhưng cuối cùng tình cảm lại mê mản theo những suy nghĩ viển vông, người chinh phụ không thể nào bình tâm tìm được sự thanh thản trong lòng và luôn có những dự cảm chẳng lành

+ Soi gương nhưng chỉ thấy hiện lên đó là gương mặt đau khổ và nước mắt đầm đìa.

Sắt cầm gượng gảy ngón đàn

Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng

+ Đánh đàn để quên đi nỗi buồn nhưng cũng chỉ gượng gảy mà thôi, rồi lai lo lắng thêm điềm gở.

>> Sự lo lắng này không chỉ cho thấy nỗi cô đơn mà còn thấy niềm khao khát hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ.

Tiểu kết

Trong 16 câu thơ đầu, nội dung chủ yếu khắc họa nỗi cô đơn lẻ loi trống vắng của người chinh phụ. Ẩn sau đó là sự cảm thông sâu sắc của tác giả đối với nỗi buồn nỗi đau của người phụ nữ. Giọng thơ trầm lắng, da diết, buồn càng lay động lòng người.

Qua đây cũng thấy sự khao khát hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ, họ mưu cầu  hạnh phúc, mưu cầu được bên người thân, đồng thời cũng tố cáo chiến tranh phi nghĩa đã đẩy con người vào tình cảnh vợ chồng xa cách.

  • Luận điểm 2: Nỗi nhớ nhung của người chinh phụ

Lòng này gửi gió đông có tiện?

Nghìn vàng xin gửi đến non Yên

+ Gió đông là ngọn gió ấm áp và non yên chính là nơi biên ải xa xôi. Người chinh phụ muốn gửi chút gió đông ấm áp, gửi chút hi vọng đến nơi biên ải xa xôi để người chinh phu thấu hiểu và trở về cùng nàng.

Non Yên dù chẳng tới miền,

Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.

+ Dù có muốn đến gặp chàng nhưng cũng không thể vì khoảng cách xa xôi, trắc trở , đường thăm chàng khó khăn chẳng khác gì lên trời. Tác giả đã sử dụng từ láy “thăm thẳm” cho thấy cung bậc nỗi nhớ dai dẳng, triền miên, nỗi nhớ gắn với nỗi đau, u sầu.

>> Câu thơ ghi lại một cách tinh tế về nỗi nhớ của người chinh phụ, nỗi nhớ đã lên một bậc cao mới và nén thành nỗi đau.

Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,

Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.

+ Có lẽ chỉ có ông trời mới có thể thấu được nỗi đau của nàng, nàng bế tắc trong cuộc sống vì không thể san sẻ cùng ai. Nỗi nhớ và nỗi cô đơn như quện vào nhau, đã buồn lại càng buồn đau hơn.

Cảnh buồn người thiết tha lòng

Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phùn.

+ Cảnh và người đều gặp nhau ở nỗi buồn và niềm đau

+ Cảnh vốn vô tri nhưng chính tâm trạng u uất của con người đã nhuốm màu buồn lên cảnh vật

>> Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đã khiến cho cảnh vật trở nên u ám ảm đạm theo tâm trạng con người.

Tiểu kết

Qua đây ta có thể thấy, nỗi nhớ nhung đã chuyển sang nỗi đau. Càng nhớ thì càng đau càng vô vọng. Không thể hi vọng tin tức từ nơi biên cương xa, người chinh phụ cũng muốn gửi chút tin từ quê nhà đến biên cương cũng khó. Đường đi thì trắc trở, mà lòng người thì đau đáu. Nỗi đau thấu tận trời xanh và chỉ biết kêu trời mà thôi. Sự cô đơn tột cùng khi không tìm được tri kỉ tri âm để giải bày, chỉ có mình với thiên nhiên. Thiên nhiên cũng chìm trong u buồn như chính tâm trạng người chinh phụ. Đúng là người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.

Kết bài

– Khát quát nội dung và nghệ thuật đoạn trích:

Với nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, ẩn dụ, giọng thơ buồn tha thiết đã nói lên được tâm trạng não nề, cô đơn, nỗi nhớ thành nỗi đau của người chinh phụ với chồng. Sự cô đơn cũng chính là khát vọng hạnh phúc, mưu cầu hạnh phúc mãnh liệt. Đồng thời qua đây cũng tố cáo chiến tranh phi nghĩa đã khiến vợ mất chồng, con mất cha, bố mẹ mất con.

– Em liên hệ với những người phụ nữ trong xã hôi phong kiến xưa phải xa chồng vì chiến tranh phi nghĩa như Vũ Nương.

Trong xã hội cũ cũng có nhiều người phụ nữ phải xa chồng vì chiến tranh vô nghĩa như Vũ Nương, và nhận kết cục vô cùng bi thương. Chính chiến tranh đã tước đi quyền hạnh phúc của người phụ nữ, đầy những người đàn ông vào chiến trường máu lửa và hi sinh vô nghĩa.

Qua đây cũng thấy được tấm lòng nhân đạo cao cả của tác giả, thương cảm cho số phận người phụ nữ.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *